Tài liệu điện tử dạy học

Chuyên ngành Lý Sinh Y Học

 

ANHBM6

Đặc điểm và vai trò của môn lí sinh trong đào tạo đội ngũ y bác sĩ

Đặc điểm của môn lí sinh

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn): lí sinh là môn học nghiên cứu liên ngành có mục đích nghiên cứu các cơ chế của sự sống, trên cơ sở các quy luật và các phương tiện của vật lí học.

Từ điển Le Petit Larousse (NXB Larousse inllustré, Paris, 2002) thì định nghĩa: lí sinh là môn học nghiên cứu các hiện tượng sinh học, đặc biệt là trao đổi năng lượng, bằng các phương pháp vật lí học.

Những nội dung nghiên cứu trọng tâm của môn lí sinh:

Quá trình tương tác và trao đổi năng lượng của sự sống: nghiên cứu và làm sáng tỏ nguồn gốc, quá trình tổng hợp, tích lũy và giải phóng năng lượng trong các cơ thể sống, công tiêu hao và năng lượng cần cung cấp cho các hoạt động sống ( các nguyên lý nhiệt động, phương trình cơ bản về cân bằng nhiệt đối với cơ thể, Công sinh ra trong quá trình co cơ, trong hệ tuần hoàn, hô hấp vv...);

Cơ chế vận chuyển và trao đổi vật chất trong các hệ thống sống như khuyếch tán, thẩm thấu, lọc, siêu lọc, các hiện tượng thực bào ẩm bào, cơ chế vận chuyển vật chất qua màng tế bào vv...

Các hiện tượng điện sinh vật và tác động của điện từ trường lên hoạt động sống: Cơ chế tồn tại, phát sinh và lan truyền của các loại điện thế sinh vật cơ bản ( điện thế nghỉ, điện thế kích thích), Cơ chế dẫn truyền dòng điện hưng phấn từ thần kinh đến cơ, cơ chế tác động của dòng điện một chiều và xoay chiều lên cơ thể vv...

Các quá trình quang sinh: Bản chất ánh sáng và cơ chế thị giác, cơ chế của các hiện tượng hấp thụ và phát quang và các hiệu ứng sinh vật dưới tác động quang động lực, sinh tổng hợp các sắc tố và vitamin dưới tác dụng của ánh sáng, cơ chế thông tin cảm thụ ánh sáng ( hướng quang), cơ chế phát xạ cưỡng bức và bản chất, nguyên lý tia laser vv...

Tác dụng sinh lý của âm, siêu âm, tác dụng nhiệt của sóng siêu âm, cơ chế lý sinh thính giác, các tác dụng cơ học và tác dụng nhiệt của siêu âm, ứng dụng trong điều trị và chẩn đoán hình ảnh vv...

Bức xạ và y học hạt nhân: bản chất, nguyên lý phát xạ các tia năng lương cao (tử ngoại, Rơnghen, Gamma, tia phóng xạ ...), các cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp lên cấu trúc và chức năng sinh lý, các tổn thương và các hiệu ứng sinh học ...

Các phương pháp và kỹ thuật y sinh phổ biến trong y học như: phương pháp hiển vi, phương pháp quang phổ, phương pháp vật lý trị liệu, các kĩ thuật đo ghi điện, siêu âm, chụp, chiếu, nội soi, xạ trị, cộng hưởng từ và y học hạt nhân…

Như đã trình bày, đặc điểm nổi bật của môn lí sinh là một môn học liên ngành, trong đó có sự gắn kết hữu cơ giữa vật lý học (các quy luật vận động, tương tác, trao đổi năng lượng và sinh công...) với giải phẫu học (cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các tổ chức sống), sinh lý học (các chức năng sinh lý thường và các biểu hiện bệnh lí ) và các môn học bổ trợ thuộc lĩnh vực y cơ sở như hóa lý, hóa sinh vv...

Các biện pháp nâng cao chất lượng day học môn lí sinh

Cấu trúc lại khung chương trình và nội dung kiến thức theo hướng modun hóa:

Như đã trình bày, trong suốt một thời gian dài, hầu hết các trường đại học y trong cả nước đều thiết kế khung chương trình môn học theo cách hiểu là môn vật lí trong trường y, (hay y - vật lí), và bố cục nội dung dựa trên giáo trình vật lí sinh học của tác giả Lê Đắc Liêu (NXB ĐH&THCN, 1975).

Từ sau 1995 trở lại, khung chương trình và do dó bố cục nội dung kiến thức đã có nhiều thay đổi, được thể hiện trong các cuốn giáo trình lí sinh học (tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, NXB Đại học Quốc gia, 2001), lí sinh y học (tác giả Phan Sĩ An và Nguyễn Văn Thiện, NXB Y học, 1998 và 2005).

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, quy mô, loại hình và các hệ đào tạo tại các trường đại học y dược đã được mở rộng: đại học và cao đẳng, chính quy và chuyên tu, bác sĩ đa khoa và cử nhân điều dưỡng, đặc biệt là việc chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang tín chỉ.

Thực tiễn đó đòi hỏi cần có sự đổi mới trong cấu trúc chương trình khung, và bố cục nội dung kiến thức môn học, sao cho phù hợp với thực tế đổi mới của các nhà trường và yêu cầu của xã hội.

Xuất phát từ yêu cầu trên, qua quá trình nghiên cứu, tham khảo việc tổ chức giảng dạy môn học tại một số trường y dược có truyền thống, và căn cứ thực tế của trường đại học y dược – Đại học Thái Nguyên, Tác giả đề xuất một khung chương trình, trong đó nội dung kiến thức được thiết kế thành 3 nhóm vấn đề (hay 3 modun), gồm:

Modun 1 “Các kiến thức vật lí đại cương”, bao gồm các kiến thức về cơ, nhiệt, điện và từ, quang, nguyên tử và phóng xạ hạt nhân..., với mục đích bổ sung và cập nhật những kến thức và phương pháp của vật lí học tiếp cận và giải quyết các nhiệm vụ tiếp theo của môn lí sinh và các môn học khác có liên quan như giải phẫu, sinh lí, sinh hóa, vi sinh vật, mô và dược lý học...

Modun này chính là nội dung của học phần “vật lí sinh học “ hay “y vật lí, được thiết kế trong chương trình đại cương như một môn khoa học cơ bản.

Modun 2: “cơ sở lí sinh y học”: bao gồm những nội dung liên quan đến nguồn gốc và các quá trình chuyển hóa năng lượng, công trong các hoạt động sống, cơ chế và động lực của các hiện tượng vận chuyển và trao đổi vật chất trong cơ thể, bản chất vật lí của các quá trình tuần hoàn, hô hấp, nguyên lý tồn tại, phát sinh và dẫn truyền của các loại điện thế sinh vật …

Modun này sử dụng những kiến thức vật lí được trang bị từ modun 1 để nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất, cơ chế động lực của tất cả các hiện tượng và quá trình xảy ra trong các cơ thể sống.

Modun 3 “các phương pháp và kỹ thuật vật lí ứng dụng trong y học” , bao gồm: các phương pháp đo ghi dòng điện của các tổ chức, bộ phân trong cơ thể ( điện tim, điện não, điện cơ, điện võng mạc...), phương pháp âm và siêu âm, phương pháp xạ trị (các bức xạ có năng lượng cao như tử ngoại, rơnghen, gamma, phóng xạ hạt nhân ...), các kỹ thuật kích thích điện (điện phân, điện châm, kích điện màng tim ), phẫu thuật không dao kéo (cắt, đốt bằng dòng cao tần, tia laser, siêu âm), kỹ thuật hiển vi và quang phổ....

Modun này sự vận dụng cụ thể các quy tắc, định luật vật lí và những kiến thức về bản chất, cơ chế, nguyên lý, động lực của của các quá trình lí sinh vào thực tiễn chuyên ngành, phục vụ trực tiếp cho công tác chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và phòng tránh những hậu quả có hại mà các tác nhân vật lí có thể gây ra.

Với cấu trúc như trên, quá trình dạy và học trên lớp, cũng như tự học ở nhà sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn rất nhiều, nhất là khi triển khai phương thức đào tạo tín chỉ hay đào tạo từ xa.

Biên soạn giáo trình lí sinh phù hợp với cấu trúc khung chương trình mới:

Hiện thực hóa định hướng trên, từ cuối 2009, bộ môn lí sinh trường đại học Y dược – Đại học Thái Nguyên đã từng bước hoàn thiện việc xây dựng và áp dụng khung chương trình theo 3 modun nói trên và dựa vào đó biên soạn cuốn giáo trình chuyên ngành lí sinh y học, theo hướng tích hợp các kiến thức liên ngành như đã trình bày.

Giáo trình đã được hội đồng khoa học của Đại học Thái Nguyên nghiệm thu và được NXB ĐH Quốc gia xuất bản .

GIÁOTRÌNH LÝ SINH Y HỌC
NGUYỄN MINH TÂN. NXBĐH QUỐC GIA HN. Số XB: 1071-2009/CXB01-201 ĐHQGHN

Moduyl 1
NHỮNG KIẾN THỨC VẬT LÝ CƠ BẢN

Moduyl 2
CƠ SỞ LÝ SINH - Y HỌC

Moduyl 3
CÁC KỸ THUẬT Y SINH

Chương 1: Cơ học

1. Các khái niệm và đại lượng vật lý cơ bản

2. Cơ học chất lưu

3. Dao động và sóng

 

Chương 2: Nhiệt động học

1. Thuyết động học phân tử, các định luật thực nghiệm về chất khí

2. Các thông số và các nguyên lý nhiệt động cơ bản

3. Các hiện tượng nhiệt động cơ bản

 

Chương 3: Điện và Từ

1. Điện trường, điện thế, hiệu điện thế, nguồn điện và dòng điện

2. Tác dụng từ của dòng điện

3. Trường điện từ, sóng điện từ

 

Chương 4: Quang học

1. Bản chất ánh sáng

2. Phản xạ, khúc xạ, nhiễu xạ và giao thoa của ánh sáng

3.Hiệu ứng quang điện

 

Chương 5: Nguyên tử, phân tử và phóng xạ hạt nhân

1. Hạt cơ bản, Nguyên tử, Phân tử, Hạt nhân

2. Phóng xạ hạt nhân

3. Định luật phân rã phóng xạ, tính chất của các tia phóng xạ

Chương 1: Năng lượng và sự sống

1. Phương trình cơ bản về cân bằng nhiệt và các quá trình biến đổi năng lượng trong cơ thể người

2. Trạng thái dừng và sự dịch chuyển Entropi trong các hệ thóng sống

3. Năng lượng trong các phản ứng hóa sinh.

Chương 2: Vận chuyển của vật chất trong cơ thể sinh vật

1.Các phân tử, ion và dung dịch trong cơ thể.

2. Các hiện tượng vận chuyển vật chất cơ bản trong cơ thể sinh vật.

3. Các cơ chế vận chuyển của vật chất qua màng tế bào.

Chương 3: Lý sinh tuần hoàn

1. Hoạt động của hệ tuần hoàn

2. Mạch máu, cơ chế vận chuyển máu trong hệ thống mạch máu

3. Những yếu tố ảnh hưởng tới tuần hoàn máu

Chương 4: Lý sinh hô hấp

1. Hoạt động hô hấp trong cơ thể.

2. Cơ chế vận chuyển khí trong hoạt động hô hấp

3. Những yếu tố vật lý ảnh hưởng tới họat động hô hấp

Chương 5. Các hiện tượng điện Sinh vật

1.Các loại điện thế sinh vật cơ bản

2. Cơ chế phát sinh và lan truyền của các loại điện thế sinh vật.

3. Cơ chế dẫn truyền hưng phấn từ thần kinh đến cơ

Chương 1: P. pháp đo ghi điện tim

1. Sự hình thành đồ thị điện tim, điện tâm đồ và ý nghĩa các sóng

2. Phương pháp đo ghi điện tim và ứng dụng trong chẩn đoán

Chương 2: Tác dụng của dòng điện lên cơ thể và ứng dụng

1. Tác dụng của dòng điện lên cơ thể

2. Phương pháp kích thích điện, ứng dụng trong kỹ thuật điện châm

Chương 3: Phương pháp Âm và Siêu âm, ứng dụng trong y học

1.Đại cương về sóng âm và siêu âm

2.Ứng dụng của âm và siêu âm trong chẩn đoán và điều trị

Chương 4: Tác dụng của ánh sáng lên cơ thể sống và ứng dụng

1.Tác dụng của ánh sáng lên cơ thể sống và ứng dụng

2. Kỹ thuật Laser, ứ dụng trong Y học

Chương 5: Bức xạ ion hóa và ứng dụng trong kỹ thuật CĐHA

1. Bức xạ ion hóa

2. Bức xạ tia X và ứ dụng trong CĐHA

Chương 6: Phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân

1.Cơ sở vật lý của phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân

2.Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ

Chương 7: Phương pháp phóng xạ, ứng dụng trong xạ trị

1.Phương pháp phóng xạ đánh dấu

2. Ứng dụng chiếu xạ trong y học và nông sinh học

Chương 8: Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử

1.Sự hấp thụ ánh sáng trong môi trường vật chất

2. Ứng dụng quang phổ hấp thụ phân tử

Ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng bộ Tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học:

Một trong những biện pháp hữu hiệu là đẩy mạnh việc triển khai, ứng dụng CNTT thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, giáo trình, bài giảng điện tử, ứng dụng các phần mềm mô phỏng thí nghiệm, xây dựng thư viện số, hướng tới triển khai công nghệ dạy học điện tử (E-learning); tăng cường giao lưu trao đổi qua mạng; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet...

Một xu thế mới đang được quan tâm là xây dựng chương trình giảng dạy theo các modun kiến thức để đáp ứng nhu cầu học tập một cách mềm dẻo, tạo bước ngoặt về việc làm bài giảng điện tử, trong đó chú trọng yếu tố hợp tác làm việc và chia sẻ tài nguyên, đáp ứng nhu cầu học tập mọi nơi, mọi lúc, sử dụng đa dạng và linh hoạt các phương thức học tập: trong giảng đường, tại thư viện, trên mạng internet …

Tài liệu điện tử dạy học do tác giả đề xuất là một mô hình, một sản phẩm phần mềm dạy học được thiết kế và xây dựng theo định hướng nêu trên.

Tài liệu điện tử dạy học (TLĐTDH) là một thuật ngữ dùng để chỉ sản phảm phần mềm tích hợp hỗ trợ dạy học, dùng chung, được thiết kế, xây dựng và khai thác thông qua hệ thống máy tính, mạng (LAN, WAN, Internet) và các thiết bị kỹ thuật số thông dụng khác.

Khái niệm tích hợp được thể hiện ở các góc độ:
i) Góc độ thiết kế cấu trúc: TLĐTDH đồng thời là một thư viện số, một giảng đường, phòng thí nghiệm, phòng thi trắc nghiệm và diễn đàn thảo luận nhóm.
ii) Góc độ công nghệ dạy học: TLĐTDH vừa là một kho chứa các tài nguyên chuyên ngành, vừa là một công cụ khai thác thông tin, vừa là phương tiện giao tiếp.
iii) Góc độ công năng sử dụng: TLĐTDH vừa là công cụ giảng dạy của thày, vừa là không gian học tập của trò, và là môi trường giao tiếp, chia sẻ, thảo luận giữa thày - thày, thày - trò, trò - trò vv…

Khái niệm dùng chung thể hiện:
i) Sản phẩm có thể do một cá nhân hoặc một nhóm tác giả thiết kế và xây dựng, nhưng tài nguyên là tài sản, công sức, trí tuệ chung của nhiều người cùng đóng góp.
ii) Khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên hữu ích và hợp pháp.
iii) Là phương tiện giảng dạy và tham khảo cho nhiều thày cô cùng chuyên ngành.
iiii) Là công cụ hỗ trợ học tập cho nhiều đối tượng học sinh và những người quan tâm;
iiiii) Không hạn chế về thời gian, không gian, số lượng người truy cập và khai thác.

TLĐTDH được cấu thành từ 3 thành tố cơ bản, đó là:

Cơ sở dữ liệu (CSDL) là nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, do tác giả biên soạn, thiết kế, xây dựng hoặc sưu tầm, lựa chọn và tổ chức một cách hợp lý và khoa học theo các giải thuật của tin học và CNTT. CSDL bao gồm: các bài giảng hoặc kế hoạch giảng dạy (giáo án) cụ thể của từng bài, từng chương; Các giáo trình, bao gồm giáo trình do các tác giả biên soạn và các giáo trình chuyên ngành đã được xuất bản của các tác giả khác nhau, được số hóa và lưu trữ dưới dạng các tệp tin (files); Các bài thực hành mô phỏng và các phòng thí nghiệm ảo (do tác giả xây dựng hoặc sưu tầm); Phần mềm hướng dẫn ôn tập và tự kiểm tra, được thiết kế dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, và cuối cùng là các tài liệu tham khảo có liên quan, hỗ trợ học tập, nghiên cứu.

Các liên kết : là một phần tất yếu để kết nối giữa giao diện người dùng với cơ sở dữ liệu lưu trữ trong máy chủ của hệ thống, được tạo ra nhằm giúp người dùng tìm đến, truy cập, tương tác và và kích hoạt những chức năng của sản phẩm, những dữ liệu cần sử dụng và khai thác.

Môi trường tương tác, giao tiếp : là không gian được tạo ra để người sử dụng có thể tiếp cận các dữ liệu và hiển thị các thông tin theo nhu cầu. Thông thường môi trường giao tiếp được thiết kế dưới dạng các trang Web, Với các cửa sổ tĩnh và động, các phím chức năng được gắn với các liên kết (linking) để giúp người dùng thực hiện các thao tác người - máy, hoặc giao tiếp người – người trong các diễn đàn chia sẻ, thảo luận trực tuyến (forum online), hoặc khi triển khai phương thức E-learning. Môi trường giao tiếp còn có thể bao gồm cả những công cụ giúp chuyển tải, gửi nhận các thông điệp hoặc tệp tin (massege, email...)

Thực trạng việc dạy học môn lí sinh trong các trường đại học y dược

Trên cả nước, hiện có gần 100 trường đại học và cao đẳng thuộc lĩnh vực y, dược, điều dưỡng, sinh học và nông lâm, mà trong đó, môn học lí sinh được giảng dạy cho các hệ: chính quy, chuyên tu, tại chức, ở các bậc học: cao đẳng, đại học và sau đại học.

Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài, hầu hết các trường đại học, các cơ sở đào tạo trong nước đều chưa có mã ngành đào tạo chuyên ngành lí sinh, do đó, chưa có được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy bộ môn này được đào tạo bài bản, chính quy nên hầu hết những người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực lí sinh lại bắt đầu sự nghiệp từ các chuyên ngành đào tạo khác nhau như Vật lí, Sinh học và Y học.

Thực trạng nêu trên đã khẳng định sự cần thiết phải có những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về lí sinh học, và việc nghiên cứu, đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức dạy và học môn học này, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ y bác sĩ, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ bác sĩ và cán bộ y tế tương lai

Bên cạnh chức năng khám và chữa bệnh, sinh viên ngành y còn phải được đào tạo để trở thành các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học trong lĩnh vực y học, những kiến thức lí sinh sẽ là hành trang không thể thiếu mà họ cần được trang bị trong quá trình học tập - nghiên cứu trong nhà trường.

Lí sinh là một ngành khoa học ứng dụng, lấy các phương pháp nghiên cứu vật lí và các phương tiện kỹ thuật làm nền tảng, làm công cụ để phát hiện và làm sáng tỏ bản chất của các quá trình sinh học; phân tích và giải thích cơ chế, động lực của các hiện tượng và các quá trình sống; nghiên cứu tác động và ảnh hưởng của các tác nhân vật lí lên cấu trúc và chức năng sinh lý của cơ thể; tìm hiểu nguyên lý chung của các phương pháp, kỹ thuật y sinh học tiên tiến...

Việc nhận thức một cách chính xác bản chất của các quá trình sinh học, làm sáng tỏ ý nghĩa vật lí, điều kiện phát sinh, duy trì và phát triển của các hoạt động sống sẽ giúp các nhà y học có được những hiểu biết sâu sắc và tổng quát, làm căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác trong việc chẩn đoán bệnh lý, can thiệp kịp thời và điều trị hiệu quả cho người bệnh.

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu tác động và ảnh hưởng của các tác nhân vật lí lên cấu trúc và chức năng sinh lý của cơ thể, cũng như việc nắm bắt nguyên tắc vật lí của các phương pháp, các kỹ thuật y-sinh sẽ là điều kiện không thể thiếu để các nhà y học làm chủ được các phương tiện hiện đại, các kỹ thuật y học tiên tiến như: quang phổ, cộng hưởng từ hạt nhân (MRI), X-quang cắt lớp (city-scaner), Xạ trị (gamma knife), phát hiện và tiêu diệt khối u trong nội tạng bằng siêu âm (KAIFU), kích thích điện lên màng tim (space-maker), tán sỏi ngoài cơ thể bằng tia LASER, cắt đốt bằng dòng cao tần, chẩn đoán, phẫu thuật bằng nội soi vv...

Vì vậy, việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học môn học này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo đội ngũ cán bộ y tế vừa có kiến thức y lý vững chắc, vừa có phương pháp tư duy khoa học của nhà nghiên cứu, vừa có kỹ năng làm chủ phương tiện kỹ thuật hiện đại là yêu cầu cấp thiết và là trách nhiệm của các thày cô giáo giảng dạy bộ môn

Vai trò môn lí sinh trong đào tạo đội ngũ y bác sĩ:

Trong bài “sứ mạng và tầm nhìn của trường đại học y dược Thái Nguyên”, PGS.TS. Nguyễn Văn Tư, hiệu trưởng nhà trường đã khẳng định: “mục tiêu đào tạo của trường đại học y dược là đào tạo đội ngũ cán bộ y dược đạt trình độ đại học và sau đại học về lĩnh vực sức khỏe, có năng lực nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ y dược, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân”.

Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo trên, trong khung chương trình đào tạo của trường, môn lí sinh được thiết kế với quỹ thời gian 6 đơn vị học trình theo niên chế (hoặc 5 tín chỉ theo học chế tín chỉ), thuộc nhóm bộ môn có thời lượng lớn nhất được đưa vào giảng dạy ngay từ năm học đầu tiên với vai trò là một môn học tiên quyết, nhằm trang bị cho các sinh viên y khoa những kiến thức và phương pháp vật lý trong tư duy và nhận thức khoa học về bản chất, cơ chế, động lực của mọi các hiện tượng, mọi quá trình liên quan đến cấu trúc, hoạt động và chức năng sinh lí của tất cả các tổ chức, các cơ thể sống.

Với đặc trưng là môn học tiên quyết, các kiến thức và kĩ thuật y sinh đã hỗ trợ hữu hiệu cho việc học tập và nghiên cứu các môn học khác trên cả 3 lĩnh vực chuyên ngành là:

Lĩnh vực y sinh học cơ sở : sử dụng những quan điểm, kiến thức và định luật vật lí làm sáng tỏ nguyên lý cấu tạo, nguyên tắc hoạt động, nguồn gốc các lực, công, quy luật chuyển hóa giữa các dạng năng lượng và vật chất vv... giúp sinh viên phát hiện, nghiên cứu, giải thích cơ chế, động lực và bản chất vật lí của các hiện tượng và quá trình sinh vật, từ đó làm sáng tỏ điều kiện phát sinh, duy trì và phát triển của các hoạt động sống.

Nói cách khác, Sinh viên được hướng dẫn phương pháp sử dụng các kiến thức vật lí “ soi rọi” vào đối tượng để làm sáng tỏ những “bí ẩn” của các hiện tượng, các quá trình xảy ra bên trong đối tượng đó. Đâyn là hành trang không thể thiếu nhằm hỗ trợ cho sinh viên trong việc học tập các môn học chuyên ngành: giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, vi sinh, miễn dich, môi trường và dịch tễ, mô học, dược lý học...

Lĩnh vực cận lâm sàng: Các kiến thức vật lí – lí sinh được ứng dụng trong các liệu pháp thăm dò chức năng (nghe tim phổi, mạch, huyết áp, đo ghi điện tim, điện não, điện cơ…), chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, X-quang, chụp cộng hưởng từ…), xét nghiệm (hóa sinh, vi sinh, miễn dịch, huyết học…)

Lĩnh vực lâm sàng: Các tổ chức sống chịu tác động của rất nhiều tác nhân vật lí như: tác động cơ học, tác dụng nhiệt, các lực điện-từ trường, ánh sáng và các loại tia bức xạ bao gồm hồng ngoại, khả kiến, tử ngoại và các tia có năng lượng cao như tia Rơnghen, Gamma, tia phóng xạ, sóng âm và siêu âm ...Vì vậy, việc nghiên cứu và hiểu rõ cơ chế tác động và ảnh hưởng của các tác nhân vật lí lên cấu trúc và chức năng sinh lý của các cơ thể sống sẽ là điều kiện không thể thiếu để các nhà y học hiểu rõ bản chất, nguyên lý của các kĩ thuật y sinh và vận dụng một cách khoa học nhằm có những chẩn đoán chính xác, lựa chọn liệu pháp điều trị phù hợp và giải pháp phòng tránh và giảm thiểu những tác động có hại cho hoạt động sống do các tác nhân vật lí gây ra. Trong lâm sàng, tác động của các tác nhân vật lí được sử dụng rất rộng rãi trong vật lí trị liệu (điều trị bằng hồng ngoại, tử ngoại, điện phân, điện châm, kích điện, tạo nhịp tim…), các liệu pháp xạ trị và y học hạt nhân (tia phóng xạ và các bức xạ năng lượng cao), và trong phẫu thuật (dao cao tần, tia laser, tia gamma, sóng siêu âm vv…)

Những khó khăn và tồn tại đối với sinh viên trường Y trong việc học môn lí sinh

Vai trò và sự đóng góp của lí sinh trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ bác sĩ và cán bộ y tế là rất rõ ràng và rất cụ thể. Tuy nhiên, có một thực tế tồn tại lâu nay là: do thuộc nhóm trường khối B, nên thực tế, từ những năm cuối phổ thông, các em đã có thiên hướng chú trọng các môn toán, hóa, sinh mà sao nhãng môn vật lí, nhất là những năm môn vật lí không thuộc nhóm môn thi tốt nghiệp. Chính vì vậy, những công cụ vật lí mà các em lẽ ra phải được trang bị ở phổ thông thực tế không đáp ứng yêu cầu mong đợi, gây khó khăn cho việc nghiên cứu, tiếp cận, tiếp thu những kiến thức lí sinh ở hệ đại học, cao đẳng.

Thêm vào đó, một số tồn tại khách quan về cách thức tổ chức môn học, đội ngũ giáo viên và cán bộ chuyên môn, tài liệu, giáo trình, điều kiện phòng thí nghiệm và cơ sở thực hành ... như đã nêu phần đầu bài viết, cũng là những hạn chế hiện hữu.

Ngoài ra, với đặc điểm là môn học liên ngành, nên để giúp sinh viên học tốt môn lí sinh, các thày cô giáo bộ môn còn phải am hiểu và được bổ sung, cập nhật các kiến thức trong lĩnh vực sinh học, y học. Nghĩa là, ngoài giảng đường và các phòng thí nghiệm vật lí, họ còn cần được tiếp cận với các sinh bệnh phẩm, được làm việc, nghiên cứu trên các đối tượng sống, trong các phòng giải phẫu, các labour xét nghiệm, các trung tâm chẩn đoán và các cơ sở điều trị vv…

Phân tích trên một lần nữa khẳng định: đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học môn lí sinh là cần thiết và cấp bách, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo đội ngũ bác sĩ và cán bộ y tế vừa có kiến thức y lý vững chắc và phương pháp tư duy khoa học của nhà nghiên cứu, vừa có kỹ năng làm chủ phương tiện và biết vận dụng các kỹ thuật hiện đại.

Thông tin tác giả

Họ và tên: Nguyễn Minh Tân.Giới tính: Nam Dân tộc: kinh
Sinh ngày: 14 - 7-1958, Quê quán: Phú Bình, Thái Nguyên
Đơn vị đang công tác: Đại học Thái Nguyên.
Chức vụ hiện tai: Giám đốc TT Công nghệ thông tin ĐHTN; Phó giám đốc BQLDA XDQTTB - ĐHTN
Trình Độ chuyên môn: Giảng viên chính, Thạc sỹ khoa học,NCS về quản lí giáo dục.
Trình độ tin học, ngoại ngữ: KS. CNTT, CN. Ngoại ngữ.
Ngày vào Đảng : 30/5/1985.

Xem chi tiết